THIẾT BỊ VÀ HÓA CHẤT MÔI TRƯỜNG NGÀNH NƯỚC VÀ NƯỚC THẢI

24 tháng 12, 2008

Giới thiệu sản phẩm DRB200 dùng với ống TNT

Lò nung DRB 200 được trang bị có một hoặc hai khối nung. Buồng nung có thể nung dung dịch trong các ống mẫu có hai kích cỡ ở 37-165 °C trong khoảng thời gian 0-480 phút. Kích cỡ nhỏ, đường kính ống 16mm đặt trong khối nung phù hợp cho các phân tích chỉ tiêu COD, TOC và các phân tích có sử dụng ống TNT của Hach. Kích cỡ lớn hơn, đường kính ống mẫu 20 mm được dùng trong các bước chuẩn bị phản ứng có sử dụng bộ Metals Prep Set. Lò nung DRB 200 có 6 chương trình được lưu trữ và 3 chương trình nhiệt độ có thể lập trình. Có hai loại buồng nung riêng dùng cho DRB200. Một mô đun có 9 lỗ cho ống mẫu đường kính 16mm và 2 lỗ cho ống mẫu đường kính 20mm. Loại này thích hợp cho các thí nghiệm COD, TOC và dùng ống TNT (Test'N Tube). Loại thứ hai có 16 lỗ cho ống 16mm và không có lỗ cho ống 20mm loại được dùng cho Metals Prep Sets.
Ngoài ra hai loại buồng nung trên thì DRB200 có thêm loại chứa đồng thời hai buồng nung ống mẫu. Loại khối nung kép này chứa 21 lỗ cho ống đường kính 16mm và 4 lỗ cho ống 20mm và thích hợp các thí nghiệm COD, TOC và dùng ống TNT.
Đặc tính-Ưu điểm
Dễ sử dụng: vận hành một chạm
Gắn liền với các chương trình của Hach
Lập trình dễ dàng với khả năng lưu vào 3 phương pháp do người sử dụng thiết lập
Đa ngôn ngữ để lựa chọn (Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ba Lan, Đan Mạch và Thụy Điển)
An toàn khi vận hành: buồng nung hoàn toàn cách ly ( không tiếp xúc da)
Nắp bảo vệ chặn truyền nhiệt ra ngoài
Chế độ cài đặt an toàn nhiệt độ tránh cấp nhiệt quá mức
Tự động tắt khi kết thúc
Đạt các chứng nhận và tiêu chuẩn an toàn CE, GS, cTUVus
Làm nóng nhanh: từ 20-150 °C dưới 10 phút
Bảo hành 2 năm
Linh hoạt: phá mẫu cho các phân tích kim loại, cho phân tích chất dinh dưỡng, các mẫu nuôi cấy sinh học.
Kiểm soát nhiệt độ từ 37-165 °C trong từng 1°C gia nhiệt
Phá mẫu kép đồng thời: kiểm soát độc lập nhiệt độ và khoảng thời gian.
Chạy 2 chương trình cùng lúc (chỉ có ở loại lò nung hai buồng)
Lý tưởng khi dùng trong thí nghiệm phân tích: COD, TOC, ISO-TOC, TN, TP, Cr tổng, phức kim loại/lơ lửng.
Thông số kỹ thuật
Kích thước: 250 x 145 x 310 mm (W x H x D)
Khối lượng: Một buồng nung DRB200s, 2 kg, 3.5 kg đã đóng gói.
Hai buồng nung DRB200s, 2.8 kg, 4.3 kg đã đóng gói
Nhiệt độ xung quanh: 10-45 °C
Chương trình lưu sẵn:
COD (150 °C, 120 phút)
TOC (105 °C, 120 minutes)
100°C (100 °C, 30, 60, 120 minutes)
105°C (105 °C, 30, 60, 120 minutes)
150°C (150 °C, 30, 60, 120 minutes)
165°C (165 °C, 30, 60, 120 minutes)
Dễ dàng lựa chọn 37-165 °C (cài đặt nhiệt độ không đổi)
Thang nhiệt độ có thể cài đặt: 37-165 °C
Khoảng thời gian có thể cài đặt: 0-480 phút
Tín hiệu âm thanh khi hết thời gian
Ngưng nung khi hết thời gian
Tốc độ gia nhiệt: từ 20 đến 150 °C trong 10 phút
Độ ổn định nhiệt độ: ±2 °C
Số lượng lỗ đặt ống mẫu: Loại đơn 9 x 16 mm, 2 x 20 mm; hoặc 15 x 16 mm. Loại kép: 21 x 16 mm and 4 x 20 mm
Yêu cầu nguồn điện: 100-240 Vac, +5%, -15%, 50/60 Hz, Chuẩn bảo vệ Class 1
Chứng nhận: CE, GS, cTUVus
Chi tiết kỹ thuật có thể thay đổi mà không báo trước
Các sản phẩm chính
» DRB200: Digital Reactor Block: 15 x 16 mm vial wells, 115 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block: 15 x 16 mm vial wells, 230 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block: 21 x 16 mm vial wells, 4 x 20 mm vial wells, 115 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block: 21 x 16 mm vial wells, 4 x 20 mm vial wells, 230 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block: 9 x 16 mm vial wells, 2 x 20 mm vial wells, 230 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block: 9 x 16 mm vial wells, 2 x 20 mm vial wells, 115 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block; 30 x 16 mm vial wells, 115 Vac
» DRB200: Digital Reactor Block; 30 x 16 mm vial wells, 230 Vac

22 tháng 12, 2008

Dụng cụ phá mẫu Digesdahl® Digestion

Giới thiệu
Dụng cụ phá mẫu được đăng kí sáng chế được thiết kế dùng phá mẫu hữu cơ và vô cơ phục vụ cho các phân tích bằng quang phổ kế, độ đục kế hay bằng phương pháp chuẩn độ sau đó. Việc nung phá mẫu được hoàn tất theo khoảng thời gian yêu cầu khi dùng dụng cụ và các phương pháp thông thường. Ví dụ như phá mẫu để xác định Kieldahn Nitơ thường mất 10 đến 15 phút với các dụng cụ phá mẫu (Digesdahl Apparatus) so với mất 1 đến 6 giờ phá mẫu (tùy thuộc vào tính chất mẫu) với dụng cụ phá mẫu cực đại hay cực tiểu truyền thống. Độ chính xác và tính chuẩn của kết quả thí nghiệm tương đương với kết quả được ghi nhận từ quy trình phá mẫu và các dụng cụ phá mẫu thông dụng.

Ứng dụng
Sử dụng dụng cụ phá mẫu- Digesdahl Apparatus để chuẩn bị nhiều loại mẫu phân tích khác nhau như nước, nước thải, khoáng vô cơ, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, bùn, mô thực vật, dung dịch mạ, dầu và than đá. Quy trình phá mẫu được nghiên cứu ứng dụng để xác định nitơ Kjeldal (protein thô), photpho, canxi, kali, sắt, đồng, bạc, nhôm, niken, côban, magiê, chì, cadmium và crôm trong các trạng thái rắn, lỏng và tổng sulfua, tổng sắt và silic trong than đá
Sử dụng

Phá mẫu với dụng cụ Digesdahl sử dụng axit sulfuaric (H2SO4) và hydrogen peroxit (H2O2) là hóa chất để hủy mẫu. Sử dụng axit sulfuric/hydrogen peroxit loại bỏ nhu cầu sử dụng chất xúc tác thủy ngân. Việc loại bỏ chất xúc tác kim loại cho dung dịch mẫu sạch giúp mẫu ổn định để phân tích cơ bản hoàn toàn mà không cần tro. Khối lượng mẫu cần xác định được cho vào lọ phá mẫu 100 mL, sau đó cho axit đậm đặc vào. Hỗn hợp dung dịch sẽ được nung trong 4 phút hoặc lâu hơn trước khi hydrogen peroxit vào dung dịch thông qua ống mao dẫn. Ống mao dẫn và cột phân tách cho phép hydrogen peroxit chảy vào chậm và có thể kiểm soát lượng cho vào. Tiếp tục cung cấp nhiệt trong 1 phút sau khi cho xong hydrogen peroxit vào. Hydrogen peroxit tăng tốc thời gian phá mẫu và đảm bảo việc phá mẫu được thực hiện hoàn toàn. Hơi sinh ra trong quá trình phá mẫu được thu lại bởi một dụng cụ hút hơi. Việc phá mẫu được thực hiện một cách an toàn bên cạnh tấm chắn kín mà không dùng tới tủ hút khí độc.
Đặc tính/Ưu điểm
Phá mẫu nhanh – đối với hầu hết các loại mẫu, chỉ mất khoảng 10 phút để phá mẫu.
Hạn chế việc sử dụng xúc tác kim loại – việc phá mẫu được thực hiện hoàn toàn chỉ với sulfuric axit và hydrogen peroxit. Dung dịch mẫu sạch ổn định để thực hiện phân tích các yếu tố mà không dùng đến tro.
Sử dụng hóa chất ít- chỉ cần dùng 4 mL sulfuric axit để đốt mẫu và 10 mL hydrogen peroxit để phá mẫu hoàn toàn.
Kiểm soát nhiệt độ chính xác - được gắn với nhiệt kế giúp duy trì nhiệt độ được ấn định, lọ phá mẫu có đáy bằng phẳng để giúp quá trình truyền nhiệt được tối ưu.
Cột phân tách hiệu suất cao- nitơ được thu hồi cao nhất với việc sử dụng duy nhất một cột phân tách cho phép kiểm soát lượng hóa chất cho vào và hút hoàn toàn hơi sinh ra
Không cần dùng đến tủ hút khí – hơi được loại bỏ bằng gắn kết cột phân tách với dụng cụ thu khí bằng nước.
Thiết kế để giảm bớt không gian chiếm – chỉ chiếm vị trí không gian đặt dụng cụ hẹp, chiếm tỷ lệ nhỏ so với dụng cụ phá mẫu thông thường.
Đong lượng hydrogen peroxit – nhanh chóng và dễ dàng xác định chính xác ước số 10 mL để cho trực tiếp vào mẫu.
Đạt các tiêu chuẩn quốc tế- dụng cụ đáp ứng tiêu chuẩn Mỹ, Canada và Châu Âu cũng như các tiêu chuẩn về an toàn: ETL, ETLc, và CE.


Thông số kỹ thuật
Kiểm soát: khác nhau từ 25-250 watts
Cấu tạo: chống ăn mòn, sơn chống gỉ thành phần bọc chịu nhiệt bên ngoài
Nguồn điện: 115 hay 230 Vac, 50/60 Hz, 250 watts
Kích thước: 14 x 16.5 x 33.6 cm (5.5 x 6.5 x 13.25 ''), yêu cầu độ cao khi đặt dụng cụ xấp xỉ 50cm
Khối lượng tĩnh: 3.85 kg (8.5 lb)
Mã sản phẩm
2313020: Digesdahl® Digestion Apparatus, 115 Vac
2313021: Digesdahl® Digestion Apparatus, 230 Vac

18 tháng 12, 2008

Chương trình phần mềm HachLink™ 2000

HachLink™ 2000 là phần mềm giao tiếp lập trình đặc biệt để tự động chuyển các số liệu đo đạc từ các thiết bị phân tích của Hach lưu trữ thành file trong máy tính. Với việc chuyển trực tiếp file số liệu vào máy tính, người sử dụng không cần phải sao chép thủ công số liệu và mất thời gian cũng như hạn chế được các lỗi đánh máy trong quá trình sao chép như trước nữa. Việc phân tích cũng thuận tiện hơn với ngày tháng, thời gian và số lượng mẫu cũng như các thông tin chi tiết khác đều đã được tự động ghi lại.
Phần mềm không bao gồm định dạng trình bày sẵn nhưng thay vào đó số liệu có thể được chuyển trực tiếp vào tập tin định dạng của Microsoft® Windows® có sẵn, file văn bản hoặc dạng hiển thị kiểu biểu đồ. Các file này có thể được chuyển tiếp tới cá nhân khác thông qua Windows Outlook™ . Sự linh hoạt trong định dạng file giúp cho người sử dụng có thể quản lý số liệu cho các ứng dụng chuyên biệt, có ý nghĩa cho việc tuân thủ chuẩn thực hành thí nghiệm tốt hoặc đơn giản chỉ là nhu cầu thuận tiện trong việc ghi lại số liệu.
Ứng dụng sản phẩm
HachLink™ 2000 cho phép đưa trực tiếp file số liệu vào máy tính từ các thiết bị phòng lab của Hach như sau:
Quang phổ kế: DR/4000, DR/3000, DR/2010, DR/2000
Điện kế: sension™2, sension3, sension4, sension5, sension6, sension7, sension8, sension156, sension378; EC20, EC30, EC40,DO175, CO150
Máy đo độ đục: 2100AN, 2100AN IS, 2100N, 2100N IS
Máy so màu: DR/820, DR/850, DR/890
Bộ BODTrak™ Apparatus và bộ phân tích HSA-1000
Mỗi thiết bị cần một loại dây cáp kết nối riêng. Ngoài ra đối với thiết bị hãng khác phần mềm cũng có loại cổng nối chung cho đầu ra của các thiết bị đó.

Các đặc tính mới

HachLink™ 2000 Software có nhiều cải tiến đáng kể so với các phiên bản trước, giúp quản lý dữ liệu tối đa và hiệu quả.
Cho phép truyền dữ liệu đồng thời từ nhiều thiết bị thông qua cổng nối với máy tính hoặc bảng mở rộng (trước đây chỉ hỗ trợ tiếp nối một cổng để truyền dữ liệu từ 1 thiết bị)
Số liệu đồ thị, áp dụng các thông số đồ thị xác định và các mục lựa chọn, in đồ thị
Cho phép mở nhiều cửa sổ với các cổng khác nhau và định dạng khác nhau. Người sử dụng có thể chọn định dạng tự do, theo bảng hay theo đồ thị.
Cho phép chuyển số liệu trực tiếp vào Excel 97 hay Excel 2000. Khi kết nối để truyền dữ liệu vào máy tính người sử dụng có thể chọn lựa định dạng file lưu trữ. Có thể dẫn ngay tới file Excel bất cứ khi nào đang thu thập số liệu bằng cách nhấp chuột hai lần lên cửa sổ định dạng theo bảng. Nếu định dạng tự do được lựa chọn người sử dụng không thể chuyển ngược lại dạng bảng hoặc tạo biểu đồ sau đó.
Cập nhật các file dữ liệu và đồ thị liên tục. Khi chương trình HachLink™ 2000 Software và Excel cùng được mở, Excel sẽ lập tức tiếp tục nhận số liệu thêm vào.
Dữ liệu chuyển vào Excel 97 hay Excel 2000 trực tiếp khi nhấp chuột hai lần vào cửa sổ bảng số liệu
Cho phép mở rộng chức năng giúp đỡ on-line
Chấp nhận cả đầu ra không phải từ thiết bị của Hach, người sử dụng cho “generic” từ danh sách các loại thiết bị và cài đặt đầu ra tương ứng
Hỗ trợ máy mới senION156 và senION 378
Đưa ra hộp thoại lựa chọn các thông số đặc biệt khi nhấn chọn theo thiết bị
Cho phép tạo tập tin số liệu gửi được qua Windows Outlook
Bao gồm cả tập tin làm mẫu mà người sử dụng thực hiện trước khi chuyển số liệu thực.

Yêu cầu hệ thống
Để cài đặt và chạy chương trình này, máy tính và phần mềm phải tương thích tối thiểu các yêu cầu sau:
PC với 486/100 MHz hay cao hơn
Hệ điều hành Windows 95,98, 2000 hay NT 4.0
32MB RAM
Đĩa cứng 20MB hay nhiều hơn
Đĩa mềm 3 ½ in. floppy disk hoặc đầu đĩa CD-ROM
Màn hình VGA với 640 x 480 hay độ phân giải cao hơn, 256 colors
Chuột hoặc thiết bị điểm khác
Cổng 9-pin ( hay 25-pin với 9-pin adapter)

Mã sản phẩm
49665-00 HachLink™ 2000 Software, CD-ROM
49674-00 HachLink™ 2000 Software, 3 /2" diskettes (pkg/6 diskettes)
Dây cáp nối máy tính đi kèm
48129-00 DR/4000 và DR/2010 Spectrophotometers; HSA-1000 Analyzer
49669-00 DR/3000 Spectrophotometer
49670-00 DR/2000 Spectrophotometer
49502-00 2100AN, 2100 AN IS, 2100N, và 2100N IS Turbidimeters
49671-00 tất cả sension kế; EC20, EC30, EC40, DO175 và CO150
49672-00 bộ dụng cụ BODTrak






16 tháng 12, 2008

Kiểm soát Oxy hòa tan trong quá trình xử lý bằng bùn hoạt tính



Quá trình bùn hoạt tính làm giảm nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và tổng chất rắn lơ lửng (TSS) đến 95%, được ứng dụng hầu hết trong các nhà máy xử lý nước thải hiện nay ở Mỹ.
Duy trì hoạt động của vi khuẩn
Khi nước thải được dẫn vào nhà máy xử lý, các chất rắn kích thước lớn sẽ sa lắng tại bể lắng sơ cấp và được loại bỏ. Những phần còn lại là chất rắn lơ lửng không thể lắng tụ hoặc nổi trên bề mặt bể lắng sơ cấp. Quá trình bùn hoạt tính dựa vào các vi khuẩn hiếu khí trong nước thải để chuyển đổi các chất rắn lơ lửng hữu cơ thành chất rắn ổn định và có thể loại bỏ từ quá trình xử lý này. Nhân viên vận hành nhà máy phải điều khiển lượng bùn tuần hoàn (RAS) không thay đổi vì đó là nguồn cung cấp vi khuẩn hữu ích để duy trì lượng vi khuẩn hoạt động trong bể sục khí và lượng bùn hoạt tính thải bỏ (WAS). Việc kiểm soát chặt chẽ các dòng này giúp duy trì khối lượng vi khuẩn cần thiết để khử các chất rắn lơ lửng hữu cơ thành chất rắn vô cơ có thể lắng được.
Bao hàm chi phí năng lượng
Quá trình bùn hoạt tính đòi hỏi cung cấp lượng oxy thích hợp cho vi khuẩn hiếu khí tồn tại. Sự thổi khí trong các nhà máy bùn hoạt tính sinh hoạt chiếm đến 40% chi phí tiêu thụ năng lượng tổng cộng cho thiết bị máy móc. Việc vận hành nhà máy hiệu quả là cần thiết phải duy trì khối lượng DO trong quá trình bùn hoạt tính đạt mức tối ưu, vừa cung cấp đủ oxy cho vi khuẩn hoạt động vừa kiểm soát được chi phí cho năng lượng.



Hệ thống oxy hòa tan HACH LDO™ dùng công nghệ phát quang để quan trắc và điều khiển lượng DO trong bể sục khí. Không giống như hệ thống đo DO thường dùng hai điện cực âm dương và chất điện ly trong điện cực, đầu dò LDO theo công nghệ mới này không tiêu thụ oxy và không bị độc hại bởi các thành phần khác trong nước thải. Hệ thống HACH LDO này kết hợp chặt chẽ với một cảm biến có tuổi thọ cao ít cần bảo trì so với loại truyền thống. Đầu dò được thiết kế theo tiêu chuẩn công nghiệp và được bảo hành 3 năm và bảo hành 1 năm đối với cảm biến DO.

11 tháng 12, 2008

Hóa chất/thuốc thử và thiết bị dùng trong phân tích COD/BOD

Các giải pháp trong phân tích COD / BOD mà Hach cung cấp

Phương pháp dichromate Chemical Oxygen Demand (COD) của Hach được USEPA chứng nhận là phương pháp được sử dụng phổ biến trên thế giới, dễ dàng cho quy trình quan trắc. Phương pháp cực nhỏ hoàn lưu kín là phương pháp đơn giản và ít tốn nhân lực hơn so với phương pháp cực lớn hoàn lưu hở.
Đối với phân tích nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), Hach cung cấp mọi tiện ích cần thiết cho cả phương pháp pha loãng truyền thống hay phương pháp hô hấp dùng bộ dụng cụ BODTrak™ II. Phương pháp dùng BodTrak II phân tích với nhiệt độ ổn định, đọc dữ liệu liên tục và tự động ngưng, hạn chế được nhiều mặt khó khăn kỹ thuật trong phân tích BOD.
Dùng ống COD để phân hủy mẫu
Dichromate COD Digestion Vials có nhiều mức phân tích sau:
COD Digestion Vials, Ultra Low Range, 1 to 40 mg/L COD, pk/25
COD Digestion Vials, Ultra Low Range, 1 to 40 mg/L COD, pk/150
COD Digestion Vials, Low Range, 3 to 150 mg/L COD, pk/25
COD Digestion Vials, Low Range, 3 to 150 mg/L COD, pk/150
COD Digestion Vials, High Range, 20 to 1,500 mg/L COD, pk/25
COD Digestion Vials, High Range, 20 to 1,500 mg/L COD, pk/150
COD Digestion Vials, High Range Plus, 200 to 15,000 mg/L COD, pk/25
COD Digestion Vials, High Range Plus, 200 to 15,000 mg/L COD, pk/150
Dichromate COD Digestion Vials không có thủy ngân:
COD2 Digestion Vials, Dichromate, Low Range, 3 to 150 mg/L COD, Mercury-free, pk/25
COD2 Digestion Vials, Dichromate, High Range, 20 to 1500 mg/L COD, mercury-free, pk/25
COD2 Digestion Vials, Dichromate, High Range, 20 to 1500 mg/L COD, mercury-free, pk/150
COD2 Digestion Vials, Dichromate, Ultra High Range, 200 to 15000 mg/L COD, mercury-free pk/25
• Giảm tối thiểu việc tiếp xúc hóa chất độc hại và ăn mòn
• Loại bỏ sử dụng pipet và cân đo chuẩn bị thuốc thử độc hại
Thuốc thử cho phân tích BOD
Các gói hóa chất đệm dinh dưỡng trong phân tích BOD gồm có:
BOD Nutrient Buffer Pillows, 300 mL, 50/pk
BOD Nutrient Buffer Pillows, 3 L, 50/pk
BOD Nutrient Buffer Pillows, 19 L, 25/pk
BOD Nutrient Buffer Pillows, 6 L, 50/pk
BOD Nutrient Buffer Pillows, 4 L, 50/pk
Các gói hóa chất đệm cho nước pha loãng trong phân tích BOD gồm:
Dung dịch Ferric Chloride dùng cho BOD, 1 L
Dung dịch BOD tiêu chuẩn, 300 mg/L, pk/16 - 10-mL Voluette® Ampule
Chất ức chế quá trình nitrat hóa cho BOD, Công thức 2533(TM), TCMP, 35 g
• dùng chuẩn bị cho nước pha loãng BOD
• có thể dùng ngay tức thì
Máy móc, thiết bị dùng trong phân tích BOD/COD
Máy đo HQ40d, điện cực IntelliCAL™ LBOD101
Mã sản phẩm: HQDBOD01
• Chế độ cắm là chạy với điện cực IntelliCAL pH, độ dẫn và oxy hòa tan (LDO®)


Máy quang phổ DR5000™ UV-Vis
Mã sản phẩm: DR5000-01
• Tốc độ quét cao

Máy quang phổ DR2800™ UV-Vis
Mã sản phẩm: DR2800-01
• Màn hình cảm ứng với giao diện sử dụng trực quan



BODTrak™ II
Phân tích BOD, loại bỏ nhu cầu dùng điện cực DO và chuẩn độ





Bộ phá mẫu DRB200 kỹ thuật số
Điều chỉnh nhiệt độ và thời gian theo người sử dụng



Máy ủ nén BOD hiệu 205
Có thể ủ đến 58 chai BOD chuẩn và nhỏ gọn để lắp đặt.




10 tháng 12, 2008

Bộ đo độ đục, tổng rắn lơ lửng (TSS) di chuyển, chất rắn lơ lửng (SS) và mức bùn

Tổng quan
Bộ thiết bị đo TSS cầm tay của Hach lý tưởng dùng trong công tác điều khiển quan trắc nước thải công nghiệp và đô thị, nước uống và nước sông. Trong nước thải, TSS di động trong trạng thái chất rắn lơ lửng cho phép thực hiện đo mức bùn trong bể một cách dễ dàng về nồng độ lẫn độ cao. Số liệu này có thể dùng để thiết lập vận tốc tuần hoàn bùn hay điều kiện chỉ thị mức độ nén bùn (khả năng lắng kém).TSS di chuyển có thể chỉ thị khi có lớp mảnh (bùn mịn) phía trên bể và định lượng nồng độ của chúng-một lần nữa chỉ thị khả năng lắng của bùn hay định lượng kết quả từ liều lượng chất tạo bông/polymer. Phép đo chất rắn lơ lửng và độ đục tại đầu ra bể lắng có thể được sử dụng xác định tính chất của bùn hoạt tính.
Ứng dụng trong nước uống, TSS di chuyển có thể điểm ra độ đục trong nước thô hay dòng ra bể lắng. Cũng như quá trình rửa ngược tại bể lọc cũng có thể được theo dõi với thông số TSS di chuyển, cho biết các số liệu theo thời gian tiết kiệm lượng nước rửa ngược và thời gian rửa.
Nguyên tắc hoạt động
TSS di chuyển dùng phương pháp một tia sáng đơn luân phiên với hệ thống đèn phân cực hồng ngoại cho phép một dãy đo rộng cho cả độ đục và SS. Độ đục được đo theo phương pháp hai kênh ánh sáng phát tán góc 90o đáp ứng theo tiêu chuẩn ISO 7027. Phép đo SS dùng 2 đầu phát và 4 đầu nhận tại góc 90o đối với độ đục và tại 120o với SS.
Đặc điểm nổi bật
Đo được 3 thông số trong một thiết bị cầm tay duy nhất
Dãy đo rộng cho cả độ đục và chất rắn lơ lửng
Các đường cong hiệu chuẩn tiện lợi
Đo mức bùn đáy dễ dàng
Bù trừ bọt khí tạo sự chính xác
Vật liệu có khả năng chống chịu lâu dài
Nguồn điện pin có thể sạc lại
Bộ nhớ trong có thể lưu trữ đến 290 giá trị đo bao gồm thời gian tiến hành, thông số đo và vị trí.

Thông số kỹ thuật
Thang đo
Độ đục: 0.001 đến 4000 NTU
SS: 0.001 đến 400 g/L (1 - 400,000 mg/L)
(mức trên phụ thuộc vào tính chất mẫu)
Độ chính xác
Độ đục: thấp hơn 3% hay ±0.02 NTU, SS: thấp hơn 4% hay ±0.001 g/L
Độ phân giải
Độ đục: 0.001 tại 0 đến 0.999 NTU; 0.01 tại 1 đến 9.99 NTU; 0.1 tại 10 đến 99.9 NTU; 1 tại > 100 NTU
SS: 0.001 tại 0 đến 0.999 g/L; 0.01 tại 1 đến 9.99 g/L; 0.1 tại 10 đến 99.9 g/L; 1 tại mức > 100 g/L
Đơn vị đo
Độ đục: NTU, FNU, EBC
SS: ppm, mg/L, g/L, %
Chọn chế độ đo
Một lần, nhiều lần cách nhau hoặc đo liên tục
Nhiệt độ, áp suất đo
0 đến 60°C (32 đến 140°F)
0 đến 10 bar (0 đến 145 psi)
Nguồn điện
Máy đo: 6 pin sạc NiMH (loại 1.2 V/min. 1800 mAH) hay 6 pin "AA" tiêu chuẩn
Đầu cắm sạc: 115/230 Vac, 50/60 Hz
Chiều dài cáp: 10 m (32.8 ft.)
Dòng điện vào: xấp xỉ 60 mA
Vật liệu điện cực: thép không rỉ
Mặt cảm biến: sapphire
Bộ nhớ số liệu: lưu đến 290 giá trị
Khối lượng: máy 0.6 kg, điện cực 1.6 kg
Kích thước: máy 110 x 230 x 40 mm, điện cực 290 x 40 mm, thùng chứa 320 x 450 x 110 mm
Bảo hành: 2 năm

8 tháng 12, 2008

Sản phẩm mới TNTplus đo chỉ tiêu sắt (0.2-6.0 mg/L)

Kiểm tra chỉ tiêu sắt với ống TNTplus là sản phẩm mới được Hach giới thiệu trong bộ các chỉ tiêu được phân tích tại phòng thí nghiệm sử dụng với máy quang phổ DR2800/5000. Thông số này thường dùng trong phân tích chất lượng nước uống và nước công nghiệp theo quy định của USEPA và dùng cho mục đích báo cáo.
Sắt TNTplus (0.2-6.0 mg/L), 25 tests/set
Tổng quan
Vòng quay đầu: cho vial vào máy đo, ống quay vòng thứ nhất để máy quét mã vạch, nhận diện thông số và phương pháp đo
Phương pháp đo tương ứng với vial được nhận diện dựa vào dữ liệu cơ sở của thiết bị
Máy sẽ không cho phép chạy phương pháp hiệu chuẩn không tương thích với vial. Thay vào đó máy sẽ hướng dẫn làm thế nào nâng cấp việc hiệu chuẩn một cách dễ dàng. Sau đó, cập nhật chương trình phần mềm đơn giản là đã thực hiện việc phân tích hoàn hảo.
Vòng quay thứ hai: trong thời gian phân tích diễn ra, vial bị quay theo 10 bước với cấp độ tăng dần.
Ở mỗi bước quay, độ hấp thụ ánh sáng sẽ được đọc
Cho nên mỗi phép đọc đều thực hiện thông qua cho một đường quang học mới
Nếu vial bị dơ? Máy sẽ tự động nhắc nhở lau chùi vial trước khi đọc
Sau khi tự động đưa ra phương pháp đo, kiểm định hiệu chuẩn, lựa chọn bước sóng và đo độ hấp thụ ánh sáng 10 lần, việc phân tích đã kết thúc. Giá trị trung bình của độ hấp thụ được tính và cho kết quả theo đơn vị mg/L.

Thông tin chi tiết về sản phẩm
Vial TNTplusTM test chỉ tiêu sắt phù hợp với tiêu chuẩn USEPA cho báo cáo nước thải và tương đương phương pháp Hach 10299
Sử dụng với máy quang phổ DR 5000 và DR 2800
Mã vạch giúp tự động lựa chọn phép đo và khởi động
Hạn chế tối đa các nguyên nhân gây sai số do thao tác, cho độ tin cậy và chính xác cao
Tạo sự tin tưởng và yên tâm ở người sử dụng

TNTplus kết hợp mọi thứ cần thiết cho việc phân tích:
Xử lý mẫu và thuốc thử so màu được đóng gói thuận tiện , ổn định và dễ kiểm soát;
Mã vạch trên cuvet cho phép ứng dụng các ưu điểm của nó trong việc nhận biết và khởi động phương pháp đo tương ứng mà không lo lắng sẽ lựa chọn sai phương pháp đo

Vial có mã vạch: đường kính 13mm chứa các thuốc thử ( có thể dạng bột hoặc lỏng) bằng thủy tinh trong suốt
Mã vạch được đọc bới quang kế để gọi ra đúng phương pháp đo từ dữ liệu nền trong máy
Khi đọc mã vạch, chương trình máy kiểm định việc hiệu chuẩn trong máy có đúng với mã số sản xuất của vial không, sau đó mới khởi động bước đo.
Phép đo 10 lần thực hiện nhanh chóng, khi ống quay theo từng cấp là cho kết quả của một đường đi ánh sáng mới.
Quang kế sau đó sẽ phân tích các số liệu của độ hấp thu ánh sáng, tính giá trị trung bình và hiện thị kết quả theo phương pháp hiệu chuẩn đã được thẩm định.
Nếu vial bị dơ, kết quả sẽ phân bổ trong một dải rộng, khi đó máy sẽ ngưng lại để vial được lau chùi sạch.
DosiCap Zip: bên cạnh các hóa chất tạo màu, một số TNTplus test yêu cầu thêm thuốc thử bổ sung.
DosiCap Zip bao gồm thuốc thử được làm khô đông lạnh nằm bên trong nắp được bọc kín bên ngoài
Sau khi cho mẫu phân tích vào vial, miếng nhôm giấy được tháo bỏ từ DosiCap Zip, để ngược vial để hóa chất phía bên trên trong nắp hòa lẫn với mẫu bên trong ống
Để lắc nhẹ vài lần cho đến khi chắc chắn thuốc thử làm khô đã được hòa tan hoàn toàn.
Ưu điểm là không cần cân đong, chuẩn bị hóa chất, hạn chế rủi ro tiếp xúc và bảo đảm lượng thuốc thử sử dụng đúng liều lượng, không bị thất thoát.
Thêm đó, hóa chất đúng theo yêu cầu, trên mỗi ống. An toàn, đảm bảo và hòa trộn với mẫu nhanh chóng.
DosiCap và MicroCap: Tương tự với DosiCap Zip trong mục đích sử dụng, nhưng DosiCap không có miếng kim loại bọc kín bên ngoài nhưng thay vào đó là được đóng gói trong chai nhựa mL, một chai cho mỗi vial trong 1 bộ kit.
Để dùng DosiCap, đơn giản tháo nắp đậy của vial cần test và thay bằng Dosicap.
Nhanh, chính xác, thuốc thử tinh khiết không bị nhiễm bẩn.
Một số ít test cần dùng MicroCaps trong quá trình tiền xử lý mẫu, sử dụng ống phản ứng đường kính 20mm
· Những MicroCaps này bao gồm thuốc thử được đóng khô trong nắp nhưng kích thước nhỏ hơn DosiCap và DosiCap Zip.
· 20 nắp trong một chai nhỏ được cung cấp kèm theo trong các test cần sử dụng chúng cùng với các vial dạng 20mL.
· Để sử dụng, chỉ đơn giản bóp nắp cho vào trong vial phản ứng đường kính 20mm-không cần vặn bên trên vial phản ứng

Các loại thuốc thử hỗn hợp dạng lỏng và rắn: một vài thuốc thử không thể đóng khô hoặc làm thành dạng viên
Những thuốc thử này được đóng gói trong các chai nhỏ
Thuốc thử dạng lỏng được chiết ra bằng pipet;
Thuốc thử dạng bột được lấy bằng loại muỗng đong liều lượng nhỏ.
Có thể phải dùng liều lượng thuốc thử cá biệt trong một số test bằng TNTplus vial mới.

Các ưu điểm nổi bật
Dễ sử dụng:

  • Tất cả việc cần làm là đưa vial vào trong máy, mã vạch sẽ giúp làm các phần còn lại.
  • Chọn đúng phương pháp từ dữ liệu nền của máy DR 5000
  • Kiểm tra việc hiệu chuẩn có đúng với vial đang dùng
  • Chọn bước sóng chính xác và bắt đầu đo. Hiển thị kết quả

Tính chính xác cao:

  • Thuốc thử được kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt, chất lượng tốt nhất cho kết quả chính xác cao liên tục
  • Mã vạch sẽ không khởi động phép đo nếu việc hiệu chuẩn máy bị quá hạn.
  • Máy làm quay vial và đo độ hấp thụ ánh sáng 10 lần
  • Máy sẽ báo hiệu việc làm sạch vial khi cần thiết
  • Máy DR 5000 sẽ tự động chuẩn đoán và hiệu chuẩn bước sóng khi được bật lên. Thực hiện việc khởi động lại mỗi ngày để độ chính xác cao nhất.
  • Vial thủy tinh trong suốt giúp giảm các sai số
  • Giá trị trung bình của 10 lần được dùng tính toán kết quả
  • Không cần mẫu trắng thuốc thử

4 tháng 12, 2008

Kiểm soát BOD đầu vào với cảm biến UVAS sc

Tính toán liều lượng bùn lên men để duy trì Bio-P trong hệ thống xử lý
Vấn đề: tải lượng BOD đầu vào thấp vào cuối tuần sẽ làm xáo trộn quá trình loại bỏ photpho sinh học (Bio-P), gây ra việc lãng phí chi phí cho hóa chất sử dụng để đạt yêu cầu xử lý
Giải quyết: sử dụng UVAS sc để kiểm soát sự bổ sung lượng bùn ban đầu được lên men phân hủy vào đầu dòng của bể xử lý bậc hai, định mức tải lượng BOD và duy trì bio-P .

Với đầu ra hạn chế 1.0mg/L tổng P với kinh phí định mức chặt chẽ, một thành phố lớn ở bang Michigan sau bước chạy thí điểm thành công quá trình bio-P đã quyết định thúc đẩy điều kiện loại bỏ photpho sinh học hiện diện tự nhiên trong các tháng mùa đông. Trong suốt quá trình chạy thí điểm họ đã phát hiện nhiều vấn đề nảy sinh liên quan tới hệ thống bio-P, cái làm giảm hiệu suất xử lý các ngày cuối tuần nhưng lại tự điều chỉnh trở lại vào thứ ba của tuần sau đó. Hiểu rõ tầm quan trọng của tỉ lệ chất dinh dưỡng, họ bắt đầu chú ý sự tương quan với tải lượng BOD đầu vào ở bể thứ cấp với sự sụt giảm lượng bio-P. Tải lượng BOD sẽ giảm đáng kể trong cả tuần và không phục hồi trở lại cho đến thứ ba.

Để giải quyết vấn đề này, nhóm vận hành quyết định bổ sung thêm lượng nhỏ BOD vào cuối tuần từ lượng bùn lên men ở bể sơ cấp. Nguồn bùn này là nguồn cung cấp dồi dào các axit dễ bay hơi, nguồn thức ăn chính cho các vi khuẩn tích lũy photpho trong điều kiện kị khí. Tuy nhiên, một quá trình nảy sinh tiếp nếu cung cấp quá nhiều axit dễ bay hơi đó là sự phát triển của các sinh vật cạnh tranh như là các vi khuẩn tích lũy glycogen – GAOs. GAOs tiêu thụ VFAs sẽ làm cho quá trình loại bỏ photpho bị hạn chế. Một quá trình khác cũng có thể xảy ra do sự cung cấp quá mức VFAs là nhu cầu oxy gia tăng trong hệ thống sục khí và do đó tốn kém thêm chi phí vận hành. Nhóm đã cân bằng sự bổ sung tải lượng BOD sao cho ngăn ngừa và giảm chi phí sục khí trong khi vẫn giữ được mức dinh dưỡng cần thiết giúp ích cho việc duy trì GAOs không tăng nhanh số lượng. Với kết quả thành công có được với HWT (Hach Wastewater Trailer) trong quá trình chạy thí điểm, nhóm vận hành đã quyết định thử với cảm biến UVAS sc organics để kiểm soát tải lượng BOD. Dùng phương pháp UV-254 để phát hiện chất hữu cơ hòa tan, UVAS sc đo tại bước sóng 550nm để bù trừ cho chất rắn trong mẫu bị ảnh hưởng khi đo bằng UV. UVAS sc được cài đặt ở đầu vào bể thứ cấp sau quá trình lắng lọc sơ cấp. Để có được hiển thị mức đo đạc BOD, nhóm phải đưa vào hai cặp điểm số liệu trong bộ điều khiển sc100: mẫu có BOD cao và mẫu có BOD thấp tương ứng với độ hấp thụ ánh sáng UV đo được bằng cảm biến tại thời điểm đo mẫu. Dựa vào những giá trị này, cảm biến sẽ tự tạo đường cong tương quan cho phép sc100 hiện thị lên theo đơn vị mg/L BOD. Mối tương quan trong UVAS sc được kiểm tra hằng tuần để chắc chắn rằng hệ số tương quan không thay đổi đáng kể.
Sau khi xác lập mối tương quan thành công, nhóm đo nồng độ BOD của bùn lên men từ bể sơ cấp và xác định lượng cấp vào dựa theo biểu đồ xu hướng thay đổi BOD.


Cuối cùng từ đường cong tương quan thu thập tải lượng BOD thích hợp cho vào theo yêu cầu sẽ được xác định và sự điều chỉnh được bắt đầu vào 8:30 thứ bảy để duy trì mức tải lượng theo nhu cầu.
UVAS sc phản hồi nhanh chóng sự gia tăng BOD ở đầu vào bể thứ cấp như trong biểu đồ dưới đây cho phép kiểm soát chính xác lượng BOD cho vào để không bị quá tải
trong hệ thống xử lý thứ cấp.

Kết luận:
Kiểm soát liên tục việc cung cấp một liều lượng thích hợp bùn từ bể sơ cấp bằng cảm biến UVAS sc cho phép duy trì bền vững quá trình Bio-P của hệ thống xử lý mà không cần quan tâm đến tải lượng BOD đầu vào. Nhờ đó không những ta có thể giảm được lượng hóa chất cần dùng khi Bio-P bị giảm mà còn có thể tránh được hiện tượng phát triển của các sinh vật cạnh tranh như GAOs. Ngoài ra, để không vượt quá ngưỡng tải lượng vào, cảm biến UVAS cũng giúp tiết kiệm chi phí sục khí do không bị quá tải BOD xử lý tại hệ thống xử lý thứ cấp để đạt được yêu cầu loại bỏ photpho.

3 tháng 12, 2008

BỘ ĐIỆN CỰC LBOD101 VÀ ĐIỆN KẾ HQd DÙNG TRONG PHÂN TÍCH BOD


Thiết kế theo tiêu chuẩn US EPA Method 180.1
Sử dụng với máy đo HQd40 của Hach cho nhu cầu phân tích BOD.
Chuẩn bảo vệ IP65 chống thấm nước
Được thiết kế để dễ dàng làm sạch, bảo dưỡng và bảo trì. Bảo hành 1 năm
Tránh để tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời/UV.
Thông số kỹ thuật
Khoảng cách thời gian đo: liên tục hoặc nhấn phím đọc
Thang đo: 0.05 - 20 mg/L DO
Giới hạn phát hiện: 0.05 mg/L
Độ phân giải:0.01 mg/L
Đơn vị hiển thị: mg/L và % độ bão hòa
Thời gian đáp ứng: T95 trong 30 giây
Độ chính xác : +/- 0.05 mg/L (DO), ± 0.2 °C (nhiệt độ), ± 3 mBar (áp suất)
Độ tin cậy và lặp lại: +/- 0.03 mg/L (DO), 10% RSD (BOD), 0.2 °C (nhiệt độ), 5 mBar (áp suất)
Nhiệt độ bảo quản: 10-30 °C
Nhiệt độ môi trường vận hành: 10-30 °C
Nhiệt độ mẫu : 10-30 °C
Thang đo áp suất: 0.7 - 1.3 bar
Độ ẩm: 0 - 95%
Nguồn điện: 100-240V, 50/60Hz
Tiêu thụ năng lượng: 1 watt
Kích thước: 191 x 41 mm (L x D)
Khối lượng: 225 g


ỨNG DỤNG
Điện cực LBOD101 IntelliCAL đi kèm với bộ HQd40/30 dùng cho các phép đo thông số BOD trong phòng thí nghiệm.

TÍNH NĂNG NỔI BẬT
Công nghệ LDO (Luminescent Dissolved Oxygen)
Tích hợp bộ phận khuấy với điện cực LDO
Sử dụng đơn giản
Màn hình hiển thị LCD, 4 con số (10.16 mm)
Được thiết kế phù hợp tiêu chuẩn của USEPA cho phương pháp đo BOD bao gồm thông số BOD5 và CBOD. Đầu điện cực tương thích với cổ chai BOD tiêu chuẩn với đường kính 15.875 mm.
LBOD101 là loại điện cực mới nhất ứng dụng bằng sáng chế của Hach với công nghệ Oxy hòa tan phát quang (LDO®). Điện cực được dùng để đo nồng độ oxy ban đầu và sau cùng.
Độ tin cậy cao:
• Tăng cường độ tin cậy trong xác định BOD5 bằng cách giảm sai số và bảo trì trong khi gia tăng độ ổn định, chính xác, tin cậy và hiệu suất (số lượng kiểm tra trên đơn vị thời gian)
• Cơ quan US EPA chứng nhận
Dễ dàng sử dụng:
• Không có màng thẩm thấu, không còn gặp vấn đề đóng cặn hay thay thế. Nhanh chóng, hiệu chuẩn theo 2 điểm tin cậy và ổn định.
• Không mất 30 phút để phân cực và khởi động.
Giảm nhu cầu bảo trì:
• Không màng thẩm thấu-giá thành vận chuyển thấp hơn, dễ dàng duy trì, không giảm khả năng đo, không cần lo lắng về độ chính xác.
• Bộ phận từ trong mô-tơ có tuổi thọ cao hơn và cũng có thể thay thế.
• Hiệu chuẩn và ổn định nhanh hơn



2 tháng 12, 2008

Thu thập mẫu cho các xét nghiệm vi sinh

Thùng chứa mẫu
Thu thập mẫu để thử nghiệm vi sinh, các chai phải được rửa sạch và tráng cẩn thận với lần tráng cuối cùng bằng nước cất và được vô trùng (tham khảo trong Standard Methods 18th về quá trình làm sạch và vô trùng ). Có thể thay thế bằng cách đặt mua các thùng chứa được vô trùng sẵn và kiểm tra tính nguyên vẹn với nắp đậy kín trước khi sử dụng.

Khử trùng mẫu
Cho chất khử vào thùng chứa sẽ dùng để thu thập mẫu là hàm lượng clo dư hoặc các halogen khác, trừ trường hợp thùng chứa chất nuôi cấy trực tiếp sinh vật. Natri thiosulfat (Na2S2O3) là tác nhân khử thỏa mãn yêu cầu trung hòa bất kì lượng halogen dư nào và ngăn chặn sự hoạt động liên tục của vi sinh vật trong quá trình lưu chuyển mẫu. Có thể thay thế bằng cách đặt mua các thùng chứa được vô trùng sẵn thích hợp với thể tích mẫu được cho là có chứa natri thiosulfat ở dạng hạt nhỏ. Thử nghiệm sau đó sẽ chỉ thị chính xác hơn lượng vi sinh có trong mẫu tại thời điểm lấy mẫu. Đối với các mẫu nước uống, nồng độ chất khử là 0.1 mL trong 3% dung dịch natri thiosulfat trong chai 120-mL sẽ cho nồng độ cuối cùng là 18 mg/L và trung hòa đến 5 mg/L clo dư. Trong trường hợp khử trùng khẩn với nồng độ clo dư cao hơn lượng chất khử thích hợp cho vào mẫu là 100 mg/L.

Thu thập mẫu – Tổng quát
1. Khi mẫu được thu thập, chừa một khoảng trống không khí bên trong chai (ít nhất 2.5 cm) để thích hợp cho việc khuấy trộn trước khi phân tích.
2. Thu thập mẫu có tính đại diện, rửa bằng tia nước hoặc khử trùng ống thu mẫu và dùng kỹ thuật khử trùng để tránh làm nhiễm bẩn mẫu.
3. Để sát chai thu mẫu đến khi được đổ đầy.
4. Bỏ nút chặn và nắp thùng chứa. Không để nhiễm bẩn mặt bên trong nút chặn và nắp cũng như cổ chai.
5. Đổ đầy thùng chứa không cần tráng rửa.
6. Đậy nút chặn và nắp ngay lập tức nếu cần sử dụng thêm đai an toàn quanh cổ chai. Có thể dùng loại nút đậy an toàn chống thấm thay thế.

Thu thập mẫu – Nước sinh hoạt
Nếu mẫu nước uống được lấy từ đầu xả của hệ thống phân phối mà không có gì gắn liền, chọn nút xả đang được dùng cung cấp nước từ hệ thống ống dẫn kết nối với mạng chính ví dụ như nút xả đó không được có nguồn dẫn từ bể chứa hay hồ chứa. Mở nút xả hoàn toàn và xả bỏ nước từ 2-3 phút hoặc lâu hơn tùy theo mức độ cho phép làm sạch đường ống hoạt động. Giảm lưu lượng nước để thu vào chai dễ dàng. Nếu nghi ngờ nút xả không được sạch cần phải cho natri hypochlorite vào đầu vòi nước trước khi thu mẫu; phải để nước chảy thêm 2 -3 phút sau khi xử lý.
Không thu mẫu từ các nút xả bị rò rỉ. Trong quá trình lấy mẫu từ vòi nước pha trộn, tháo các phụ kiện như lưới lọc, tấm chắn tóe, chạy nước nóng trong 2 phút sau đó nước lạnh từ 2 đên 3 phút và thu mẫu theo các bước ở trên.
Nếu thu mẫu từ các giếng được bơm bằng tay, bơm nước để xả bỏ trong 5 phút trước khi lấy mẫu. Nếu giếng bơm bằng máy, lấy mẫu từ ống xả bơm nước ra. Nếu không có máy bơm mà phải lấy nước giếng trực tiếp thì thùng đưa xuống giếng lấy mẫu phải được khử trùng với lượng hóa chất thích hợp, cẩn thận tránh bị nhiễm bẩn mẫu bởi váng cặn. Trong đánh giá nước uống, thu các mẫu nước đã xử lý và từ vị trí phân phối được lựa chọn để đảm bảo tính hệ thống qua mỗi tháng. Cẩn thận trong việc lựa chọn địa điểm mẫu hệ thống phân phối để bao gồm được các phần đoạn cuối chết cho việc chứng minh tính chất sinh học xuyên suốt cả mạng lưới và để chắc rằng việc nhiễm bẩn không xảy ra trong suốt các đoạn kết nối, tách đường dẫn hay giảm áp suất. Vị trí thu mẫu có thể là các vị trí công cộng (trạm cảnh sát, cứu hỏa, văn phòng nhà nước, trường học, trạm xe buýt xe lửa, sân bay, công viên hay các khu thương mại như nhà hàng, trạm xăng, văn phòng, nhà máy) hay các trạm đặc biết được xây trong mạng phân phối. Thiết lập chương trình thu mẫu cần có sự tư vấn của tồ chức chính thức về sức khỏe tại vùng hoặc thành phố.

Thu thập mẩu - Cấp nước thô
Trong thu thập mẫu trực tiếp từ nguồn là sông, suối, hồ chứa hay giếng cạn, cần thu được mẫu đại diện cho nguốn cấp. Không thể lấy mẫu quá gần bờ hay quá xa điểm mương xả, hoặc tại độ sâu trên hay dưới điểm mương xả

Thu thập mẫu – Nước mặt
Các nghiên cứu suối có thể là ngắn hạn cấn nhiều nỗ lực cường độ cao. Lựa chọn vị trí mẫu sinh học bao gồm một vị trí đường mức đấu nguồn từ khu vực nghiên cứu, dòng chảy ra từ công nghiệp hay đô thị vào trong vùng suối nghiên cứu chính, các nhánh phụ ngoại trừ lưu lượng thấp hơn 10% dòng chính, các điểm lấy nước vào cho dân cư và công nghiệp sử dụng, mẫu hạ lưu được dựa trên thời gian dòng chảy và vùng trống ở hạ lưu. Sự phát tán nước thải vào dòng tiếp nhận có thể cần thiêt cho nghiên cứu các mặt cắt ngang ban đầu để xác định sự pha trộn hoàn toàn. Ở nơi các nhánh phụ được tính vào, chọn điểm thu mẫu gần nơi hợp lưu với nhánh chính. Mẫu có thể được thu từ thuyền hay cầu gần điểm nghiên cứu quan trọng. Chọn tần suất thu mẫu phản ánh được điều kiện khối nước của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ, để đánh giá nước thải bỏ, thu mẫu sau 4 đến 6 giờ trong khoảng 7 đến 10 ngày. Để quan trắc chất lượng nước suối, hồ ao cần chọn vị trí thu mẫu tại điểm chính. Tần số thu mẫu theo mùa đối với nước phục vụ giải trí, hằng ngày đối với nước cấp vào, hằng giờ với nơi nào kiểm soát nước thải đầu ra và nguồn tiếp nhận là khu vực trồng trọt đánh bắt thủy sản.

Thu thập mẫu – Các bãi tắm
Vị trí thu mẫu tại các khu vực vui chơi giải trí nên phản ánh chất lượng nước cho toàn bộ khu vực đó, bao gồm các vị trí khu vực đầu nguồn và các vùng lân cận với các rãnh tháo nước hay đường đồng mức tự nhiên cho thoát nước khi mưa lũ hoặc chất thải tự hoại. Mẫu thu thập trong khu vực bơi lội ở độ sâu xâp xỉ 1 m. Lưu ý đến việc thu thập mẫu bùn sa lắng ở vùng ven bờ chuyển tiếp vì trẻ em tiếp xúc tại mực nước này. Để có dữ liệu nền về chất lượng nước biển và vùng cửa sông, mẫu phải được thu khi cả thủy triều lên và xuống.

Thu thập mẫu – lớp trầm tích và lớp bùn
Tính sinh học của lớp trầm tích đáy rất quan trọng đối với nước cấp từ hồ chứa, sông hay nước ven bờ dùng cho mục đích vui chơi giải trí và chăn nuôi thủy sản. Lớp trầm tích có thể cung cấp chỉ số tổng quát về chất lượng nước phía trên nơi có sự khác biệt lớn về đặc điểm sinh học. Tần số thu mẫu trong hồ và bể chứa liên quan đến sự thay đổi mùa và nhiệt độ của nước hay nước mưa chảy tràn. Trầm tích đáy thay đổi ở nước sông và cửa sông có thể không ổn định hơn do ảnh hưởng bởi nước mưa lũ, vận tốc dòng chảy gia tăng và sự thay đổi đột ngột của dòng xả thải. Thí nghiệm vi sinh vật của bùn từ nước và quy trình xử lý nước thải được xem như quyết định đến các tác động của lượng thải lên môi trường tiếp nhận ( nguồn nước tiếp nhận, bãi chôn lấp rác hay thải bỏ xuống biến). Quan trắc bùn thải có thể chỉ thị hiệu suất của quá trình xử lý nước thải.

Thu thập mẩu – Bằng tay
Lấy mẫu từ sông, suối, hồ bằng cách giữ lấy chai ngay chỗ tay cầm và nhúng đầu cổ chai hướng xuống phía dưới mặt nước. Quay chai đến khi cổ chai hơi hướng lên và miệng chai hướng về dòng chảy. Nếu không có dòng chảy, như trong trường hợp tại bể chứa, thì tạo dòng chảy bằng cách đẩy chai theo chiều ngang vế phía trước theo hướng ra xa tay cầm. Khi thu mẫu từ thuyền, lấy mẫu ở phía trước mũi thuyền. Nếu không thể thu mẫu theo những cách này, gắn một vật nặng vào chai và thả vào nước. Trong bất kì trường hợp nào cũng phải lưu ý tránh tiếp xúc với bờ hay đáy kênh.

Kích thước mẫu
Thể tích mẩu cần lấy phải dự trù đủ cho các xét nghiệm sẽ tiến hành, thường không được ít hơn 100mL

Nhận diện mẫu
Phải mô tả chính xác mẫu thu thập. Không chấp nhận xét nghiệm các mẫu không được ghi nhận rõ ràng.

Bảo quản, lưu trữ và vận chuyển mẫu
1. Mẫu phải được lưu trữ và làm lạnh trong ngày nếu phải vận chuyển hoặc phân phối qua đêm.
2. Thời gian trữ: tất cả mẫu vi sinh phải được tiến hành test trong vòng 24h.

Nguồn: BioVir Laboratories

28 tháng 11, 2008

Dòng sản phẩm TNTplus mới nhiều cải tiến của Hach phục vụ phân tích tại phòng thí nghiệm

Thang đo mới cho các chỉ tiêu Đồng, HR-Nitrit và COD không dùng thủy ngân sử dụng ống TNTplus để phân tích.
Hach vừa đưa ra 3 loại thuốc thử mới dùng trong phân tích Cu, HR-Nitrit và COD không có Hg với thang đo được bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu phân tích nước thải (Cu, HR-Nitrit, COD), nước uống (Cu) và trong công nghiệp ứng dụng (quan trắc. kiểm soát đồng, hợp kim, HR nitrit trong vai trò chất tiêu thụ oxy trong hệ thống làm lạnh tiếp xúc). Các sản phẩm mới này giúp việc phân tích tại phòng thí nghiệm với máy quang phổ dễ dàng và chính xác hơn.
Sản phẩm TNTplus dành riêng cho loại máy cầm tay DR2800 và DR5000 của Hach để tăng hiệu suất và giảm thiểu sai số phân tích. Với TNTplus, người sử dụng có thêm các tiện lợi như:
Tiết kiệm thời gian và chi phí - vial có gắn mã vạch
· Quét mã vạch tự động lựa chọn phương pháp đo và bước sóng thích hợp, không mất nhiều thời gian như trước
· Các vết trầy xước, nứt, bám dơ, dấu vân tay trên thân vial sẽ không là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo do thiết bị làm quay TNTplus vial và lấy 10 giá trị đo, thể hiện kết quả theo giá trị trung bình.
· Hoạt động không còn phức tạp, không cần mẫu trắng cho hầu hết các thông số.
Giảm hóa chất thải bỏ ra ngoài – vial được đóng gói kín
· Không cần mở túi hóa chất hay làm sạch lọ thủy tinh – các thuốc thử được chứa bên trong vial đóng kín nắp


TNTplus Cu
Thang đo: 0.1 - 8.0 mg/L Cu
25 vial phân tích mẫu/set
Thí nghiệm phân tích với TNTplusTM cho kết quả chính xác
Dùng với máy quang phổ DR 5000 hoặc DR 2800 cầm tay
Mã vạch tự động lựa chọn phép đo và khởi động.
Loại bỏ các sai số do người đo, chính xác và dễ dàng sử dụng

TNTplus HR Nitrit
Thang đo: 0.6 - 6.0 mg/L NO2-N (2.0 - 20.0 mg/L NO2-)
25 vial phân tích mẫu/set
Thí nghiệm phân tích nitrit mức cao với TNTplusTM cho kết quả chính xác
Dùng với máy quang phổ DR 5000 hoặc DR 2800 cầm tay
Mã vạch tự động lựa chọn phép đo và khởi động.
Loại bỏ các sai số do người đo, chính xác và dễ dàng sử dụng

TNTplus COD free Hg
Thang đo: 25 - 1000 mg/L COD
25 vial phân tích mẫu/set
Thí nghiệm phân tích COD với TNTplusTM cho kết quả chính xác
Dùng với máy quang phổ DR 5000 hoặc DR 2800 cầm tay
Mã vạch tự động lựa chọn phép đo và khởi động.
Loại bỏ các sai số do người đo, chính xác và dễ dàng sử dụng.


26 tháng 11, 2008

Giới thiệu các phương pháp phân tích vi sinh vật trong nước thải và bùn thải.


Phương pháp xét nghiệm E. coli trong nước thải
Các xét nghiệm E. coli trong nước thải gồm hai phương pháp là lọc màng (MF, số vi khuẩn/100mL) và lên men ống nghiệm nhân đôi (MTF, số MPN/100 mL). Phương pháp MF bao gồm sử dụng môi trường nuôi cấy cải tiến m-TEC, do EPA phát triển và m-ColiBlue24®, do Hach phát triển. Xét nghiệm MTF (Tiêu chuẩn 9223B và AOAC 991.15) là các phương pháp tiêu chuẩn nhất trí tự nguyện (Voluntary Consensus Standards - VCS). VCS được các thành viên VCS chấp nhận và phát triển. Cả hai phương pháp MF và MTF đều đã có sản phẩm thương mại là các môi trường nuôi cấy được chuẩn bị sẵn để sử dụng tức thì.
m-TEC cải tiến là quy trình một bước đơn giản của phương pháp MF kết hợp một thể nhiễm sắc đặc biệt để phát hiện và đếm số lượng E. coli. Trong phép phân tích này, mẫu nước thải được lọc qua giấy lọc 0.45μm và đặt lên agar m-TEC cải tiến, ủ ở nhiệt độ 35 ± 0.5 oC trong 2 giờ và sau đó được ủ thêm 23 ± 1 giờ trong bể nước có nhiệt độ 44.5 ± 0.2 oC. Ngay sau khi ủ xong, các khuẩn lạc màu đỏ hoặc đỏ tươi xuất hiện chính là E.coli. m-ColiBlue24 là quy trình một bước MF kết hợp với chất ức chế các vi khuẩn không thuộc coliform và có gen chỉ thị chọn lọc cho phép phát hiện và đếm đồng thời E. coli và tổng coliform. Mẫu sau khi được lọc qua giấy lọc 0.45 μm sẽ được đặt vào đĩa petri có chứa miếng lọc và chất dinh dưỡng m-ColiBlue24. Sau đó đem ủ ở 35oC ± 0.5oC trong 24 giờ. Các khuẩn lạc màu xanh xuất hiện sẽ là E. coli và màu đỏ là các coliform khác. Tổng coliforms sẽ là tổng số màu đỏ và xanh xuất hiện. Quy trình phân tích theo MTF có chứa chất nhiễm sắc OPNG giúp phát hiện đồng thời E. coli và tổng coliforms. Mẫu nước sau khi đưa vào các ống nghiệm đã chứa sẵn môi trường nuôi cấy sẽ được pha trộn đều và sau đó đổ ra khay dùng để ủ ở 35oC ± 0.5oC trong 24 giờ. Nếu phát hiện còn nghi ngờ thì sau khoảng thời gian ủ nhất định sẽ được để ủ thêm 4 giờ với cùng nhiệt độ. Sau khi ủ, mỗi ống hoặc khe được so sánh màu với bảng màu tham khảo được cung cấp kèm với môi trường cấy. Nếu mẫu có màu vàng đậm hơn hay bằng với màu tham chiếu thì sự hiện diện của tổng coliforms là rõ ràng. Khi đó mẫu sẽ được kiểm tra sự hiện diện của huỳnh quang. Nếu ánh sáng huỳnh quang sáng hơn hay bằng với mẫu tham chiếu thì mẫu có giá trị dương với test E.coli. Nồng độ MPN/100 mL được tính từ số ống dương tính tương ứng trong bảng giá trị MPN cung cấp từ nhà sản xuất.

Các phương pháp xét nghiệm Enterococci trong nước thải
Các phương pháp xác định và đếm số lượng enterococci trong nước thải gồm có MF và MTF. Phương pháp MF agar mEI được phát triển bởi EPA, môi trường nuôi cấy này có chứa chất nhiễm sắc đặc biệt để phát hiện enterococci. Mẫu nước sau khi lọc sẽ được cho vào agar mEI và ủ ở nhiệt độ 41 ± 0.5 oC trong 24 giờ. Sau khi ủ, tất cả khuẩn lạc có vầng sáng màu xanh và đường kính nhỏ hơn 0.5 mm chính là enterococci. Phương pháp MTF, là phương pháp chuẩn VCS phát triển bởi ASTM sử dụng môi trường MUG. Các mẫu được ủ ở nhiệt độ 41 ± 0.5 oC trong 24 giờ. Sau khi ủ, nếu xuất hiện các huỳnh quang trắng/xanh thì đó là enterococci. Nồng độ
MPN/100 mL là số ống dương tính theo bảng giá trị như phân tích E. coli theo phương pháp MTF ở trên. Cả hai loại môi trường nuôi cấy đều có sẵn trên thị trường.

Phương pháp xét nghiệm Fecal Coliform trong bùn thải
Các phương pháp xác định và đếm số lượng fecal coliforms trong bùn thải gồm có hai phương pháp MF (LT-EC media và A-1 media) được phát triển bởi EPA. Phương pháp phân tích theo LT-EC thì gồm hai bước. Bước thứ nhất sử dụng các ống nghiệm có chứa chất dinh dưỡng LTB được cấy với bùn thải và ủ trong 24 ± 2 giờ ở 35 ± 0.5 oC. Sau khi ủ, sự xuất hiện độ đục và các khí được tạo thành có thể là dương tính với coliform. Nếu độ đục và khí không tạo thành ở lần ủ thứ hai cùng điều kiện nhiệt độ và thời gian thì có nghĩa là không tồn tại fecal coliforms trong mẫu bùn. Phương pháp xét nghiệm dùng môi trường A-1 thì yêu cầu cấy mẫu và ủ trong ống nghiệm ở 35 ± 0.5 oC trong 3 giờ, sau đó ủ thêm 21 ± 2 giờ.Độ đục và khí tạo thành chỉ thị sự hiện diện của fecal coliforms.

Phương pháp xét nghiệm Salmonella trong bùn thải
Phương pháp xét nghiệm Salmonella trong bùn thải bao gồm nhiều bước MTF được phát triển bởi EPA. Trong bước phân lập, các ống nghiệm chứa TSB được cấy với mẫu và ủ ở 36 ± 1.5 oC trong 24 ± 2 giờ. Sau khi ủ, lấy từng giọt trong mỗi ống TSB chấm lên agar Rappaport-Vassiliadis chọn lọc (MSRV). Những giọt này được để hấp thụ vào agar trong 1 giờ ở nhiệt độ phòng sau đó đem ủ 42 ± 0.5 oC từ 16 đến 18 giờ. Sau khi ủ, các vòng sáng hơi trắng xuất hiện từ mỗi mẫu được chiết ra cho vào đĩa chứa môi trường XLD và được ủ từ 18 đến 24 giờ ở 36 ± 1.5 oC. Sau đó, một trong các đĩa được đem đi xác nhận. Các đĩa còn lại được trữ lạnh để tham chiếu. Sự xuất hiện của các khuẩn lạc màu đỏ hồng với chấm đen ở giữa được cho là Salmonella. ­Ở bước xác định, các khuẩn lạc hồng đến đỏ được lấy ra và cấy vào môi trường xiên TSI, LIA và urease broth. Tất cả đem ủ trong 24 ± 2 giờ tại 36 ± 1.5 oC. Bước này để xác nhận mẫu dương tính hay âm tính phụ thuộc vào phản ứng màu đặc biệt. TSI là bước tiếp xác nhận bổ sung sử dụng polyvalent O antiserum. Để ống TSB nguyên bản được cho là dương tính Salmonella thì ủ với MSRV, XLD, TSI hay LIA và polyvalent O phải dương tính và urease thì âm tính. Bất cứ xét nghiệm tại phân tích nào bị thất bại thì cho ra kết quả âm tính.


Theo tác giả: Robbin Crane, Cary B. Jackson, Ph.D., Roger Sedlacek và Derek Walker
Hach Company, Loveland, Colorado, USA
Các phương pháp đã được kiểm chứng bởi US-EPS. Theo đó, thì cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (US-EPA) đã điều chỉnh “hướng dẫn thiết lập quy trình thí nghiệm cho việc phân tích các chất ô nhiễm” theo 304 luật nước sạch (CWA) bằng việc bổ sung thêm quy trình phân tích mới cho phương pháp đếm số lượng Esherichia coli (E. coli) và enterococci trong nước thải, và fecal coliforms với Salmonella trong bùn. Các phương pháp bổ sung này đòi hỏi tồn tại cùng với quy định theo hệ thống hạn chế xả thải ô nhiễm quốc gia (NPDES) cho phép để bắt đầu quan trắc E. coli và enterococci trong nước thải và fecal coliforms và Salmonella trong bùn thải trong vòng 30 ngày kể từ khi luật cuối cùng được ban hành trong Sổ đăng kí liên bang (Federal Register-FR).Tháng 8 năm 2005 và tháng 4 năm 2006, EPA soạn thảo để hướng dẫn cho công chúng (70 FR 48256 và 71 FR 18329) để điều chỉnh quy định 40 CFR phần 136 chứng nhận 4 phương pháp E. coli và 2 phương pháp enterococci cho quan trắc ô nhiễm sinh học trong nước thải và 2 phương pháp fecal coliform với 1 phương pháp Salmonella cho quan trắc ô nhiễm sinh học trong bùn. Ngày 29 tháng 9 năm 2006, EPA xuất bản bản thảo Final Rule những phương pháp nước thải mới này. Công bố chính thức và xuất bản trong Sổ đăng kí liên bang vào năm 2007.

25 tháng 11, 2008

m-ColiBlue24® Broth - Phát hiện nhanh Coliform trong vòng 24h


Sản phẩm m-ColiBlue24® Broth mới của Hach có thể phát hiện và nhận diện đồng thời Coliform tổng và E.coli . Việc đếm số lượng được hoàn thành chỉ trong vòng 24h - không cần có thêm bước xác định từng loại nào.
Thực hiện phân tích với m-ColiBlue24® Broth không đòi hỏi có đèn huỳnh quang hay máy so mẫu màu- kết quả thể hiện dễ dàng nhận biết bằng trực quan với E.coli là màu xanh, các coliform khác cho màu đỏ, tổng coliform sẽ là tổng của số lượng màu xanh và đỏ phát hiện được. Kết quả được đếm trực tiếp chính xác hơn các phép xác định số lượng và thống kê như phương pháp lên men trong nhiều ống nghiệm (Multiple Tube Fermentation -MTF) hay phương pháp xác định hàm lượng thường gặp nhất (Most Probable Number -MPN).
Phương pháp này đã được US EPA phê chuẩn cho quan trắc trong nước uống và nước thải và có thể dùng để phát hiện các coliform trong các loại nước khác nhau – nước đóng chai, nước mặt, nước ngầm, nước giếng và nước cải tạo (nước ngọt hay nước biển) cũng như nước trong quá trình sản xuất hóa chất tinh khiết.
Hach không chỉ cung cấp m-ColiBlue24 mà còn có các sản phẩm đa dạng với giải pháp toàn bộ cho các nhu cầu thí nghiệm vi sinh bao gồm các môi trường nuôi cấy (m-Endo, m-FC), đĩa petri, màng, thiết bị lọc và các dụng cụ nuôi cấy, phân tích tại chỗ.
Thông số kỹ thuật
Thời gian ủ: 24 giờ tại 35 ± 0.5 °C
Độ nhạy: 1 CFU/100 mL
Tính chọn lọc: chứa các chất ức chế để giảm thiểu sự phát triển của các vi khuẩn không phải là coliform
Lưu trữ và hạn sử dụng
Để lạnh tại 2 đến 8°C đến 1 năm kể từ ngày sản xuất
Chứng nhận kiểm soát chất lượng - QC
Enterobacter cloacae (ATCC# 23355)
Escherichia coli (ATCC# 25922)
Klebsiella pneumoniae (ATCC# 13883)
Pseudomonas aeruginosa (ATCC# 27853)

Hướng dẫn sử dụng
Lấy 100mL thể tích mẫu nước uống hoặc nước thải được cho là có khuẩn lạc coliform hay E.coli. Khi phân tích mẫu từ các nguồn khác, có thể lấy thể tích lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Mục tiêu là mẫu phải có khoảng 20 và không quá 100 khuẩn lạc các loại trên một màng lọc.
Các bước thực hiện:
1.Trộn đều chất nuôi cấy bằng cách đảo ngược hai đến ba lần. Đổ đều ra bề mặt thấm và đậy nắp đĩa petri.
2.Lọc mẫu hoặc pha loãng bằng giấy lọc 47mm qua màng lọc kích thước lỗ 0.45 micromet. Sau đó dùng kìm vô trùng để đưa phần giấy lọc vào đĩa petri đã có môi trường nuôi cấy chuẩn bị sẵn ở bước 1.
3.Đặt phần giấy lọc sao cho phần có đường lưới là mặt dưới, lên miếng hấp thụ bằng cách xoay nhẹ. Kiểm tra để không có khí phía dưới miếng lọc và đảm bảo toàn bộ miếng lọc được chạm vào phần hấp thụ. Thay nắp đĩa petri.
4.Đảo ngược đĩa petri và đưa vào ủ tại 35 ± 0.5 °C trong 24 giờ
5.Đếm khuẩn lạc. Dùng kính hiển vi độ phóng đại 10 đến 15X để đếm nếu cần thiết. Nếu không có khuẩn lạc màu xanh hoặc đỏ xuất hiện, mẫu được xem là âm tính. Nếu màu xanh hoặc đỏ xuất hiện sau 24h, kết quả là dương tính và đó là coliform hoặc E.coli tùy theo màu khuẩn lạc. Không cần tiến hành thêm bước phân định loại nào.
Tính toán mật độ coliform
Dùng công thức sau để tính mật độ coliform trên một đơn vị màng lọc
Coliforms trên 100 mL = (số khuẩn lạc Coliform đếm được/ mL thể tích mẫu đem lọc) x 100
Ghi chú: thể tích mẫu là thể tích thực, không phải thể tích pha loãng.

Đánh giá và trình bày kết quả
•Nếu các khuẩn lạc phát triển trên toàn bộ bề mặt môi trường hoặc một phần và các khuẩn lạc không tách biệt rõ ràng, báo cáo kết quả sẽ là: hợp dòng phát triển có hoặc không có coliform.
•Nếu tổng số khuẩn lạc (coliform và không phải coliform) vượt quá 200 trên đơn vị màng lọc hay khuẩn lạc quá khó để đếm chính xác, báo cáo kết quả sẽ là: quá số lượng đếm (TNTC)
Trong cả hai trường hợp, bắt buộc phải tiến hành mẫu mới được pha loãng thêm để có thể cho kết quả trong khoảng 20 đến 100 khuẩn lạc tổng cộng.





12 tháng 11, 2008

Tiết kiệm chi phí năng lượng trong quá trình xử lý bùn hoạt tính

Năng lượng tiêu thụ là một trong những chí phí lớn nhất trong quá trình vận hành một nhà máy xử lý nước thải. Trong quá trình xử lý bùn hoạt tính, năng lượng tiêu thụ có thể tiêu tốn đến hàng ngàn đô la.

Các chất rắn hiện diện trong dòng ra từ bể lắng sơ cấp là các hạt có thể lắng tốt. Quy định của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ yêu cầu loại bỏ những chất thải hữu cơ này để ngăn ngừa ô nhiễm như là có thể gây nên bệnh tật, cá chết và bùng phát tảo. Quá trình bùn hoạt tính sẽ loại bỏ được những chất lơ lửng này bằng cách chuyển chúng thành các chất rắn dễ sa lắng. Quá trình này do sử dụng hỗn hợp nhóm các vi sinh vật bao gồm vi khuẩn, động vật nguyên sinh và các rotifer để phá vỡ chất thải hữu cơ thành chất thải vô cơ. Tuy nhiên, quá trình bùn hoạt tính trong nhà máy xử lý thì tăng tốc độ xử lý so với trong tự nhiên bằng cách kiểm soát điều kiện môi trường tối ưu.
Các máy thổi khí cung cấp oxy cần thiết cho sự tồn tại của vi khuẩn trong quá trình bùn hoạt tính. Tuy nhiên, lượng oxy hòa tan (DO) nếu quá cao có thể gây ra tình trạng kết tủa lơ lửng không lắng trong bể lắng, vài trường hợp các khối bông cặn bùn và làm tiêu tốn nhiều năng lượng điện không cần thiết. Nồng độ DO quá thấp cũng gây ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của vi khuẩn để tiêu thụ chất thải trong nước đầu vào. Nồng độ DO không thích hợp gây ra các tác động tiêu cực và kết quả là hiệu quả xử lý sẽ không đạt yêu cầu cho phép.
Các vấn đề khó khăn với các phương pháp kiểm soát chung
Các nhà vận hành tại hầu hết các nhà máy xử lý nước thải sử dụng máy đo DO và lắp đặt các máy thổi khí ở tốc độ không đổi tại bể bùn hoạt tính. Phương pháp cố định này sẽ không thể điều chỉnh được quy trình. Ví dụ như khi nhu cầu oxy giảm trong suốt buổi tối mùa đông do sự giảm nhiệt độ, phương pháp này không thể tự động điều chỉnh giảm lượng thổi khí và do đó lãng phí năng lượng điện. Ngược lại, khi nhu cầu oxy lớn do lượng thải từ nước thải công nghiệp có thể làm giảm DO và lấy đi toàn bộ lượng oxy có trong quá trình bùn hoạt tính, nếu quy trình không được tự động tăng lượng thổi khí.
Người vận hành sẽ không thu thập được số liệu DO cần thiết cho những điều kiện trên và do đó không thể tối ưu quá trình và tiết kiệm năng lượng điện.
Tiết kiệm năng lượng điện với hệ thống tự động hóa
Các nhà máy xử lý nước thải có thể cắt giảm lượng điện tiêu thụ trong quá trình xử lý bùn hoạt tính. Các động cơ năng lượng hiệu quả và bộ biến tần (VFD) kết hợp với bộ phân tích DO liên tục được lắp đặt và bảo trì thích hợp sẽ làm giảm chi phí năng lượng.
Ví dụ, máy phân tích Hach sc100 với đầu dò LDO có thể định dạng gửi tín hiệu 4-20mA tới một biến tần hoặc được kết nối với một thiết bị PLC hay hệ thống SCADA. Hệ thống điều khiển tự động tăng hay giảm tốc độ thổi khí để đáp ứng đúng lượng DO cần thiết trong bể hiếu khí. Một nghiên cứu được IAMU thực hiện năm 1998 chứng minh được việc sử dụng các thiết bị này sẽ giảm được 25% chi phí cho năng lượng cho quá trình bùn hoạt tính.
Tóm lại, khi ứng dụng các thiết bị phân tích liên tục và hệ thống điều khiển tự động để tối ưu lượng oxy hòa tan trong quá trình xử lý bùn hoạt tính sẽ góp phần làm giảm chi phí tiêu thụ điện cho một nhà máy xử lý nước thải.

11 tháng 11, 2008

Kiểm soát oxy hòa tan (DO) trong quá trình phân hủy bùn

Các chất rắn còn lại sau quá trình lắng sơ cấp và thứ cấp trong xử lý nước thải phải được chuyển từ chất rắn thành phần hữu cơ cao thành chất rắn vô cơ để được thải bỏ an toàn ở các bãi rác hợp vệ sinh hoặc dùng làm đất trồng. Có hai quá trình phân hủy bùn phổ biến được áp dụng cho hầu hết các nhà máy xử lý nước thải để làm giảm thành phần rắn bay hơi có trong chất rắn hữu cơ từ 70-80% còn lại 45-55%:

1. Phân hủy kị khí: Quá trình này sử dụng các vi khuẩn tạo axit và vi khuẩn tạo khí metan để chuyển đổi chất rắn. Những vi khuẩn này thích hợp trong môi trường nhiệt độ cao từ 33 đến 36oC và không có sự hiện diện của oxy hòa tan (DO). Đôi khi oxy có thể xuất hiện trong bể phân hủy kị khí khi vận tốc khuấy cao, khi vận tốc hoàn lưu lớn hoặc khi quá nhiều bùn hoạt tính bị thải bỏ. Người vận hành cần phải kiểm soát DO trong bể phân hủy kị khí để đảm bảo không có oxy tồn tại trong hệ thống. Tuy nhiên, bể kị khí sinh ra H2S loại khí có thể làm hỏng điện cực đo DO truyền thống.
2. Phân hủy hiếu khí: Quá trình này sử dụng vi khuẩn hiếu khí để phá vỡ các chất hữu cơ. Khi các vi khuẩn đã tiêu thụ tất cả thành phần hữu cơ, chúng sẽ quay sang ăn lẫn nhau và trở lại pha hô hấp nội bào. Những vi khuẩn này sẽ chỉ tiêu thụ chất rắn hữu cơ trong sự hiện diện của oxy hòa tan, vì thế cảm biến DO phải được dùng để duy trì lượng oxy ở mức 0.5 đến 2 mg/L DO. Tuy nhiên, các vi khuẩn sinh sulfua có trong bùn có thể sinh khí hydro sulfit gây hỏng điện cực DO truyền thống.

Giải pháp kỹ thuật mới
Nồng độ chất rắn cao trong bùn phân hủy thông thường từ 3 đến 5% nên việc đo DO cũng rất khó khăn với kỹ thuật chuẩn. Chất rắn sẽ nhanh chóng phủ kín cảm biến và làm mất tác dụng đo của chúng.
Điện cực HACH LDO™ là kỹ thuật tiên tiến duy nhất hiện nay trên thị trường có thể đo DO ứng dụng trong quá trình phân hủy bùn vì đầu dò LDO không bị tác động bởi H2S. Đầu dò có thể tiếp tục đo DO khi nồng độ bùn tăng cao khi oxy vẫn có thể xuyên qua cảm biến.
Kết hợp với một bộ phận thổi khí làm sạch có thể giảm nhu cầu làm sạch và kiểm tra thường xuyên của người vận hành.










7 tháng 11, 2008

Chất dinh dưỡng-Photpho trong nước thải


Sự phát triển của tảo, trong trường hợp xấu nhất có thể gây hiện tượng phú dưỡng hóa nước bê mặt, là kết quả của sự gia tăng nồng độ phophat quá mức trong nước. Cho nên cần có một giới hạn xả thải về chỉ tiêu PO4-P để ngăn ngừa hiện tượng này. Các nhà máy xử lý nước thải vì thế cần phải loại trừ PO4 trong các quá trình nitrat hóa/đề nitrat hóa hay trong quá trình xử lý hóa học bằng cách tạo kết tủa với photpho. Việc phân tích PO4-P hoàn toàn cần thiết không chỉ để đáp ứng yêu cầu quan trắc giới hạn xả thải mà còn để đánh giá hiệu suất và chi phí xử lý của quá trình loại trừ photpho.
Photpho trong nước-nguồn gốc và việc loại bỏ
Các ảnh hưởng của photpho lên nước mặt
Hợp chất photpho là chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật và gây nên sự phát triển của tảo trong nước mặt. Tùy vào nồng độ photpho trong nước mà hiện tượng phú dưỡng có thể xảy ra hay không. Chỉ 1g PO4-P trong nước có thể đủ cho nhu cầu 100 g tảo phát triển. Khi những loại tảo này chết, quá trình phân hủy chúng sẽ cần đến khoảng 150g oxy hòa tan. Nồng độ để bắt đầu gây ra hiện tượng phú dưỡng là khoảng 0.1-0.2 mg/L PO4-P trong nước động và 0.005-0.01mg/L PO4-P trong nước tĩnh. Phòng ngừa nguy hại tiềm ẩn cho nước bề mặt, hướng dẫn 91/271/EEC của EU đã đưa ra các mức giới hạn của nguồn thải trước khi xả vào nguồn tiếp nhận. Phụ thuộc vào công suất của nhà máy xử lý nước thải, các giá trị này có thể là 2 mg/L P-tổng (10000 – 100000 p.e) hay 1 mg/L P-tổng (>100000 p.e)
Photphat có từ đâu?
Hợp chất photphat tìm thấy trong nước thải hay được thải ra trực tiếp vào nguồn nước mặt phát sinh từ:
Thất thoát từ phân bón có trong đất
Chất thải từ người và động vật
Các hóa chất tẩy rửa và làm sạch

Tổng lượng photpho bao gồm ortho photphat + poly-photphat + hợp chất photpho hữu cơ trong đó ortho photphat luôn chiếm tỉ lệ cao nhất. Photphat có thể ở dạng hòa tan, keo hay rắn. Trước khi phân tích cần xác định dạng tồn tại của photpho. Nếu chỉ xác định orth-photphat (mục đích kiểm soát quá trình kết tủa photpho) thì mẫu cần được lọc trước khi phân tích. Tuy nhiên nếu phân tích photpho tổng (kiểm soát giới hạn thải) thì mẫu phải được đồng nhất và sau đó được thủy phân.

Thành phần P và phương pháp xác định

Ortho-photphat (lân hòa tan)
Công thức: PO43-
Chuẩn bị mẫu: Lọc
Cuvet: LCK049/349/348/350
Thiết bị phân tích: PHOSPHAX sc (phương pháp molybdate-vanadate)
Ứng dụng: Ortho-PO4-P (nước thải, kết tủa P); Ortho-P (nước uống và nước nồi hơi)

Polyphotphat
Công thức: PO4- PO4- PO4-
Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất, phân hủy

Hợp chất photpho hữu cơ
Công thức: R-PO4
Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất, phân hủy

Tổng photpho
Công thức: Tổng PO4
Chuẩn bị mẫu: Đồng nhất, phân hủy
Cuvet: LCK349/348/350
Thiết bị phân tích: PHOSPHAX sigma (phương pháp phosphomolybdate xanh theo EN 1189)
Ứng dụng: Tổng PO4-P (nước thải); Tổng PO4 (nước uống và nước nồi hơi)

Sự khử photphat
Ngày nay nồng độ trung bình photpho tổng trong nước thải sinh hoạt đầu vào của một nhà máy xử lý vào khoảng 9mg/L nên phải được loại bỏ bớt trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Có phương pháp xử lý: xử lý sinh học loại trừ photpho và xử lý hóa học kết tủa photpho. Nhược điểm của phương pháp kết tủa là nó làm tăng hàm lượng muối trong nước và cũng tốn kém chi phí hóa chất tạo lắng. Hơn nữa muối photphat kết tủa sẽ làm tăng lượng bùn thải. Trong thực tế, hai phương pháp này được kết hợp để loại bỏ photpho nhằm giảm chi phí sử dụng hóa chất.

Phân tích photphat
Để phân tích thường xuyên thì trong các quy trình xử lý nước thải một số điểm cần phải được quan trắc liên tục để kiểm soát hiệu suất hoạt động. PO4-P có thể được phân tích liên tục hoặc tại phòng thí nghiệm. Lập biểu đồ giá trị nồng độ theo thời gian từ giá trị đo liên tục và một số điểm được kiểm tra lại theo giá định đo tại phòng thí nghiệm. Đo liên tục nồng độ PO4-P kết hợp với hệ thống kết tủa thải bỏ sẽ cho hiệu quả cao hơn.

Phương pháp sinh học loại bỏ photphat
Photphat có trong bể chứa nhiều hơn so với nhu cầu binh thường trong bùn hoạt tính. Đó là do lượng bùn bị tuần hoàn giữa môi trường kị khí và hiếu khí. Hiệu quả loại trừ bằng phương pháp sinh học phụ thuộc vào lượng hữu cơ dễ bị phân hủy (BOD5). Tỉ lệ P/BOD5 là nhỏ hơn 0.03 và N/BOD5 là nhỏ hơn 0.25 trong dòng vào bể sục khí nơi lượng photpho bị phân hủy gia tăng.

Phương pháp hóa học loại bỏ photphat bằng kết tủa
Các hợp chất ortho-photpho bị kết tủa khi lượng photphat kim loại hòa tan kém và sự có mặt của các hóa chất tạo lắng (muối sắt, nhôm, vôi sữa). Các muối này lắng xuống và lưu lại trong bùn thải. Các chất tạo kết tủa có thể được cho vào ở quá trình xử lý sơ bộ (trước kết tủa), trong bể khí khí (kết tủa đồng thời) hay tại bể phản ứng phụ cuối dòng của bể hiếu khí (sau kết tủa). Hiệu quả nhất là tại quá trình kết tủa đồng thời và tiết kiệm chi phí nhất.
Các nguyên nhân và sự khử nồng độ PO4-P cao
Nếu giá trị P tổng trong nhà máy xử lý cao hơn mức bình thường, sự khác biệt giữa P tổng và ortho-P phải được đánh giá đầu tiên. Nếu độ khác biệt thấp, nồng độ ortho-PO4-P thì sẽ rất cao. Các nguyên nhân và biện pháp khắc phục:
1. Quá ít hóa chất tạo lắng được cho vào hoặc được đưa vào không đúng vị trí thích hợp
Kiểm tra liều lượng chất tạo lắng
Nếu cần thiết, tăng lượng hóa chất hoặc cho thêm vào ở nhiều vị trí khác nhau
2. Photpho bị vón cục trong bể lắng thứ cấp
Nồng độ PO4-P trong dòng ra ở bể lắng thứ cấp thì được cao hơn đáng kể ở quá trình nitrat hóa
Tăng lượng oxy hòa tan trong quá trình nitrat hóa hay tăng tỉ lệ bùn tuần hoàn
Nếu giá trị giữa P tổng và PO4-P khác biệt lớn, thì tỉ lệ hợp chất photpho không hòa tan sẽ cao. Các nguyên nhân và biện pháp khắc phục:
1. Tỉ lệ chất rắn cao gây thất thoát bùn
Ít bùn hoạt tính dạng sợi kết hợp với việc quá tải lượng nước (do mưa, tuyết tan)
Quan trắc độ axit trong bể hiếu khí hoặc hành động để chống lượng bùn lớn
2. Lượng polyphotphat phân hủy kém, có thể từ chất tẩy rửa dùng trong công nghiệp
Tình trạng này có thể được cải thiện bằng cách loại trừ ngay tại điểm xảy ra hiện tượng khi chất tạo lắng không phản ứng với loại hợp chất này


6 tháng 11, 2008

Máy quang phổ VIS DR3800 sc


Là model mới nhất trong kỹ thuật phân tích nước bằng máy quang phổ.
Với hệ thống phân tích thông minh, DR3800 có thể kết nối với bộ điều khiển sc1000 cung cấp các chức năng mới phục vụ việc phân tích và kiểm soát chất lượng nước đo kết hợp quan trắc kết quả phân tích liên tục với kết quả tại phòng thí nghiệm. Trực tiếp so sánh giá trị đo liên tục với kết quả đo tại phòng thí nghiệm với chương trình phần mềm hỗ trợ LINK2SC®. Các tính năng đã có như phân tích theo mã vạch lập chương trình sẵn tiếp tục được cải tiến với phương pháp phân tích đảm bảo được tự động xác định chính xác.
· Có đến 230 chương trình đo.
· Có thể tự lập trình phương pháp đo dễ dàng với menu hướng dẫn trực quan .
· Dễ dàng thao tác với màn hình TFT, biến thể phổ biến của màn hình tinh thể lỏng sử dụng công cụ transitor màng mỏng.
Màn hình màu TFT với ngôn ngữ đơn giản
Màn hình có độ phân giải cao hỗ trợ tối đa người sử dụng, ví dụ như hiển thị giá trị đo cùng với các mức đo đã được thực hiện để dễ dàng so sánh và các kí hiệu tín hiệu màu đỏ sẽ xuất hiện cho biết khi nào giá trị đo của mẫu vượt mức ngưỡng.
Các tính năng khác:
USB có thể trao đổi các phương pháp bên trong với phục hồi các số liệu của thiết bị.
Tự động trao đổi dữ liệu từ PC sang máy in.
Có thể cập nhật chương trình phần mềm từ Internet.
Mật mã bảovệ và các thông tin người sử dụng được mã hóa theo màu sắc tiện việc theo dõi, vận hành.
Chi phí có thể tính toán được, dịch vụ hỗ trợ thường xuyên và chế độ nhắc nhở.

DR3800 được phát triển cho các ứng dụng rộng rãi. Bộ nhớ cho phép lưu 230 chương trình cài đặt sẵn và người dùng có thể cài đặt thêm 100 chương trinh riêng, lưu trữ 1000 giá trị đo, 20 bước sóng quét, 20 thời gian quét. Thang đo rộng từ mức vết đến mức nồng độ cao. Máy tự động xác định trở lại giá trị zero và chọn bước sóng với các yếu tố khác. Các nguyên nhân gây sai số được loại trừ từ khi bắt đầu trong khi các máy khác mất thời gian khi chuyển đổi qui trình đo.
Lần đầu tiên, kết quả đọc từ quy trình xử lý và tại phòng thí nghiệm có thể được so sánh trực tiếp trong một máy quang học. Biểu đồ được hiển thị chi tiết có màu với các giá trị đo của các mẫu xáo trộn trong vòng 24 h và các mốc thời gian, các đường hiển thị trên bộ điều khiển sc1000. Chỉ cần nhấn vào một nút tất cả số liệu có thể lưu lại trên một văn bản.Tính năng này tạo cho các số liệu đo đạc được rõ ràng hơn. Chương trình phần mềm có thể phát hiện những bất thường để có thể điều chỉnh việc kiểm soát kịp thời. Điều này giúp loại bỏ những chi phí không cần thiết, chẳng hạn như khi nồng độ vượt ngưỡng giới hạn cho phép hay sự thêm vào các hóa chất tạo lắng quá mức nhu cầu.
Thông số kỹ thuật
Máy quang phổ VIS DR3800 sc model LPV424
Dãy bước sóng: 320-1100nm
Khe phổ: 5nm
Các lựa chọn đo: nồng độ, độ hấp thụ, độ truyền sáng, động học và phổ trong độ hấp thụ, %độ truyền sáng, đa bước sóng.
Độ chính xác bước sóng: ±1.5nm trong dãy 340-900nm
Độ lặp lại: ≤ 0.1nm
Độ phân giải: 1nm
Chế độ quét: các bước quét 1; 2; 5nm
Tốc độ quét: ≥ 12nm/s trong bước quét 1nm (46 giây/340-900nm)
Độ chính xác quang học: 5mAbs tại 0.0-0.5 Abs; 1% tại 0.5-2.0 Abs
Ánh sáng lạc: <0.1%
Nhận diện phép đo: hệ thống đọc mã vạch IBR
Kích cỡ cuvet: 13mm (tròn), 10mm, 50 mm, 1 inch (cuvet vuông và tròn)
Hiển thị: màn hình nền sáng tinh thể lỏng sử dụng công nghệ transitor màng mỏng (320 x 240 pixel) Bộ nhớ: 230 chương trình cài đặt sẵn và người dùng có thể cài đặt thêm 100 chương trinh riêng, lưu trữ 1000 giá trị đo, 20 bước sóng quét, 20 thời gian quét
Cổng: 1 cổng USB cho PC, 1 cổng USB cho máy in/bàn phím/thẻ nhớ rời hoặc adapter
Chuẩn bảo vệ: IP32
Nguồn điện: 15V/30VA; nguồn cắm vào: 100-240V;50/60Hz
Kích thước, khối lượng: 14.4 x 35.9 x 36.8 (H x D x W); 6.4 kg
Chương trình phần mềm: LINK2SC® để phân tích quy trình và giá trị đọc tại phòng thí nghiệm, mã số LZV774. E-Procedure: hỗ trợ các quy trình làm việc kỹ thuật số, mã số LZV760.

5 tháng 11, 2008

Vài nét tóm tắt lý thuyết về độ đục

Giới thiệu và định nghĩa
Độ đục, được hiểu là một đặc tính của chất rắn làm cản trở sự truyền ánh sáng trong nước, là một chỉ thị quan trọng cho chất lượng nước. Độ đục có thể được dùng để phân loại độ trong của nước và thường được dùng để chỉ thị sự hiện diện của chất rắn lơ lửng, bị phân tán; các hạt không hòa tan hoàn toàn trong dung dịch như đất bùn, sét, tảo và các vi sinh vật khác; các vật chất hữu cơ và các hạt nhỏ khác. Độ đục không đo trực tiếp nồng độ các hạt lơ lửng trong nước nhưng đo sự phân tán ánh sáng gây ra bởi các hạt đó.
Mức độ chấp nhận sự tồn tại của các chất rắn lơ lửng rất rộng và khác biệt tùy theo từng điều kiện. Chẳng hạn trong công nghiệp làm mát nước, có thể tồn tại lượng chất rắn lơ lửng rất cao mà không gây bất cứ một vấn đề nghiêm trọng nào. Tuy nhiên trong nồi hơi áp suất cao thì nước phải hoàn toàn không có chất cặn. Chất rắn trong nước uống là nơi cư trú của các vi khuẩn gây bệnh phát triển và do đó làm giảm hiệu quả khử trùng nước bằng quá trình clo hóa, kết quả là gây nguy hiểm đến sức khỏe con người. Trong hầu hết các việc cung cấp nước, chất lơ lửng nhiều gây mất mỹ quan và có thể gây cản trở trong các thí nghiệm sinh hóa.

Lý thuyết về sự phân tán ánh sáng
Rất đơn giản, tính quang học được trình bày theo độ đục là sự tương tác giữa ánh sáng và các hạt lơ lửng trong nước. Một tia sáng tới chiếu qua mẫu nước trong hoàn toàn thì được nguyên vẹn không bị tán xạ, dù là cơ bản các phân tử trong dung dịch tinh khiết cũng sẽ phân tán ánh sáng theo một góc nhỏ. Vì thế không có một dung dịch nào cho kết quả độ đục bằng zero. Trong các mẫu có chứa chất rắn lơ lửng thì cách thức phát tán ánh sáng sẽ phụ thuộc vào kích thước, hình dáng và thành phần của các hạt tương tác với bước sóng ánh sáng (màu) của tia sáng tới.
Một hạt nhỏ thì tương tác với tia tới bằng cách hấp thụ một phần năng lượng của ánh sáng và sau đó bản thân nó được coi như một điểm sáng sẽ phát ra ánh sáng theo mọi hướng. Sự bức xạ theo mọi hướng này tạo nên hiện tượng phân tán ánh sáng từ tia tới. Sự phân bố không gian của ánh sáng phát tán phụ thuộc vào tỉ lệ giữa kích thước hạt với bước sóng của tia tới. Các hạt càng nhỏ so với bước sóng thì cho phân bố đối xứng, lượng ánh sáng phát tán gần như bằng nhau theo hai phía trước và sau (Hình 1). Khi kích thước hạt tăng so với bước sóng, ánh sáng phát tán từ các điểm khác nhau của hạt tạo nên phần giao thoa về phía trước, sự chống lấp ánh sáng phát tán ở phía trước của hạt thì có cường độ lớn hơn so với các hướng khác (Hình 2 và 3).
Ngoài ra các hạt nhỏ phát tán các bước sóng ngắn (màu xanh) mạnh hơn và chỉ tác động rất nhỏ đối với bước sóng ánh sáng dài (màu đỏ). Trái lại, những hạt lớn thì dể phát tán ánh sáng có bước sóng dài hơn sóng ngắn. Hình dạng hạt và chỉ số khúc xạ cũng tác động tới sự tán xạ và cường độ của chúng. Các hạt hình cầu cho thấy tì lệ phát tán về phía trước cao hơn phía sau so với các hạt hình que hay hình xoắn. Chỉ số khúc xạ của hạt là phép đo bao nhiêu ánh sáng bị phản xạ lại khi đi từ môi trường này sang môi trường khác. Chỉ số này khác với chỉ số khúc xạ của chất lỏng để thấy được ánh sáng phát tán. Khi sự khác nhau giữa chỉ số khúc xạ của hạt lơ lửng và chất lỏng của mẫu phân tích tăng, sự phát tán sẽ mạnh hơn. Độ màu của mẫu và của chất rắn lơ lửng cũng quan trọng trong nhận biết ánh sáng phát tán. Các chất có màu hấp thu năng lượng ánh sáng trong một dãy quang phổ hẹp làm thay đổi tính chất truyền quang và tán xạ làm cản trở một phần ánh sáng phát tán tới hệ thống nhận biết (detector).
Cường độ phát tán ánh sáng tăng theo nồng độ hạt. Khi nồng độ hạt vượt quá một ngưỡng nào đó, khả năng phát hiện ánh sáng phát tán và ánh sáng truyền qua sẽ bị giảm, đánh dấu mức giới hạn trên trong khả năng đo độ đục. Giảm khoảng cách đường truyền ánh sáng qua mẫu sẽ giảm số lượng hạt giữa nguồn sáng và bộ phận cảm biến ánh sáng và do đó tăng thêm được giới hạn trên của phép đo.
Hình 1
Kích thước: nhỏ hơn 1/10 bước sóng ánh sáng
Mô tả: tán xạ đối xứng


Hình 2
Kích thước: gần bằng ¼ bước sóng ánh sáng
Mô tả: tán xạ tập trung vế phía trước


Hình 3
Kích thước: lớn hơn ¼ bước sóng ánh sáng
Mô tả: mức độ tán xạ tập trung lớn vế phía trước


Mô tả chung về máy đo độ đục



Bộ phận quang học của thiết bị bao gồm một đèn, thấu kính và bộ lọc để hội tụ ánh sáng và một detector góc 90o để quan trắc ánh sáng phát tán, một detector cho ánh sáng phát tán về phía trước, một detector cho ánh sáng truyền qua và một detector cho phát tán phía sau. Những detector quang học này có thể được đặt thêm vô để giảm tác động do màu sắc, ánh sáng lạc, đèn và các phần quang học khác.

Huyền phù tiêu chuẩn chính
Theo định nghĩa trong hóa học của dung dịch tiêu chuẩn chính là dung dịch tiêu chuẩn được chuẩn bị bởi người sử dụng và từ chất đánh dấu thô. Formazin đạt các yêu cầu này bằng cách cân chính xác và hòa tan 5.000 g hydrazin sunfat với 50.0 g hexamethylenetetramine trong 1 L nước cất. Dung dịch sẽ có màu trắng sau khi để yên tại 25 °C trong 48 giờ và có thể chuẩn bị thêm tương tự với độ chính xác là ±1%. Dung dịch này tương đương mẫu có độ đục 4000 NTU. Dựa vào xác suất độ lặp lại của phân tán ánh sáng trắng theo góc 90o trong mẫu chuẩn formazin polime, các thiết bị thiết với đèn dây tóc tungsten truyền thống cho ánh sáng trắng có thể được hiệu chuẩn với độ chính xác và độ lặp lại cao.